MF (Mail Forwarder) Legacy DNS Checker
Bản ghi MF (Mail Forwarder) là loại bản ghi DNS đã bị tuyệt chủng (extinct), từng được chạy cặp song song với bản ghi MD (Mail Destination) hồi giai đoạn trứng nước của cơ chế định tuyến email internet. Trong khi bản ghi MD được giao nhiệm vụ cực gắt là phải trỏ thẳng tới đích cuối cùng của một cái inbox, thì bản ghi MF được tạo ra để đi gỡ những sự cố nát bét về độ ổn định mạng trên trục xương sống (backbone) internet của thập niên 1980. Chức trách của nó là định nghĩa ra một host trung gian—kiểu như một con trạm chuyển tiếp (network relay)—để chịu trách nhiệm nhận hòm thư thay cho domain, tàng trữ nó đó, và linh hoạt gửi đẩy thư về sát đích hơn bất cứ khi nào nó đánh hơi thấy có route khả dụng.
Kiến trúc mạng Store-and-Forward (Lưu trữ và chuyển tiếp)
Theo hình hài các cấu trúc mô hình mạng nguyên thủy, duy trì kết nối TCP/IP xuyên suốt, 24/7 là điều hiếm có như tìm ngọc dưới biển. Vô số các khối học thuật và hệ thống mainframe công ty thời đó kết nối ra mạng lớn bằng những đường cáp dial-up ếch nhái hay qua mấy con cầu kết nối ARPANET chập chờn. Trong cái môi trường "store-and-forward" (lưu và chờ chuyển) này, bản ghi MF nắm vai trò vô cùng cốt lõi. Ví dụ nếu ai cũng biết thừa server đích chính (primary destination server) của một domain cứ mỗi ngày lại sập offline tới 12 tiếng đồng hồ, thì anh admin có thể dựng nên một bản ghi MF để trỏ qua một server nào đó sống dai, luôn bật (always-on) nằm bên khối đối tác. Lúc này, con server gửi thư sẽ gõ lệnh truy vấn DNS, nó nhận ra rằng đích MD đang unreachable (không tới được), liền route ngay cái đống payload ném cho con host MF. Server chuyển tiếp kia (forwarding server) sẽ xếp đống thư vào hàng chờ (spool) ở ổ cứng nội bộ và sẽ đẩy cục bulk đó qua tự động một khi con server đích chót kết nối thành công mạng trở lại.
Độ rắc rối của Split Zones (Vùng chia nhỏ)
Mặc dù đứng trên lý thuyết là nghe có vẻ hợp lý, nhưng thực tế, cái màn ôm đồm phải bảo trì các bản ghi DNS vừa riêng lẻ vừa phân chia cho đích cuối (MD) và các server rơ-le trung gian (MF) đã chứng minh là một trò quá nhọc nhằn, cực kỳ dễ đẻ ra lỗi (error-prone) đối với những network admin. Nhúng tay quản trị hệ thống DNS zone đòi hỏi các khâu cày cuốc chỉnh sửa văn bản file thô (flat text files) tốn rất nhiều mồ hôi, và mỗi lần cố giữ cho mapping của con forwarder đồng bộ cùng với mapping của con destination lại dễ dàng lòi ra rổ infinite routing loop và làm rớt vô số payload. Bên cạnh đó, vụ hệ thống bị vắng bóng một cấu trúc xếp hạng độ ưu tiên (priority ranking) đồng nghĩa với việc đội ngũ admin bó tay trong khoản dựng ra được các lớp backup forwarder chồng tầng (tiers) lên nhau.
Sự thống nhất (Unification) dưới bản ghi MX
Kiến trúc cứng nhắc của MF đã chính thức bị xếp xó sau khi tài liệu RFC 973 được phát hành, kéo theo việc ra mắt bản ghi MX (Mail Exchanger) linh hoạt hơn gấp vạn lần. Giao thức MX đã hút trọn toàn bộ công năng của bản ghi MF. Chỉ với thao tác gắn nhẹ một số độ ưu tiên lớn hơn (tương đương cấp độ ưu tiên kết nối thấp) vào một host nhất định, các admin ngày nay có thể phẩy tay hóa phép bất kì con bản ghi MX chuẩn nào thành một hệ thống mail forwarder thực tế (de facto) hay một trạm spooling relay. Server primary sẽ hưởng ưu tiên mức 10, trong khi server spooling backup bế mức 50. Nước cờ hợp nhất (unified) này đã biến dạng bản ghi MF chuyên dụng thành rác mạng (obsolete) mãi mãi, và các dòng phần mềm phân tích DNS hiện đại bây giờ sẽ sổ toẹt (drop) mọi yêu cầu truy vấn MF không thương tiếc.